Vào iTune bạn có thể mở iStore, tạm gọi là cái cửa hàng ảo chuyên bán phần mềm, ảnh, postcard, nhạc, phim, sách nói… của Apple. Ở đây, bạn có thể chọn mua đủ thứ. Mỗi tội giá của nó hơi bị đắt.
Chúng ta quen nghe nhạc chùa, tức là nhạc miễn phí. Nhưng ở iTune, muốn nghe nhạc, phải trả tiền. Mua hẳn, tức là có thể download về máy tính của mình, giá một bản nhạc là 0,9 USD. Cả album có khi là 14 USD hoặc hơn nữa. Mua một bộ phim cũng vậy. Phim thường 14,9 USD. Phim HD thì 19,9 USD. Phầm mềm cũng vậy, giá cả đại khái là như thế.
Cho nên, để nghe được nhạc ở đây, để có được cái này cái kia ở đây, phải trả tiền đắt lắm. Mà lại tiền Mỹ hẳn hoi. Nói chung là không thể chịu được nếu bạn đang sống ở Việt Nam mà lại phải chi tiêu kiểu Mỹ như vậy.
Nhưng có một cách…
Bạn sẽ được giới thiệu để mua một tài khoản. Cái này thì giống hệt ở Mỹ. Muốn mua hàng ở iTune cũng phải mở tài khoản. Giá của nó rất là hay. Tài khoản 100 USD, bạn chỉ phải trả 100 ngàn VND. Nếu mua hẳn tài khoản 450 USD, bạn còn được giảm giá, chỉ phải trả 300 ngàn VND thôi. Tinh thần như vậy thì bạn thừa sức mua hàng trên iTune.
Tất nhiên, đây là tài khoản do các hacker làm ra. Có lẽ, cũng giống như họ bẻ khóa (unlock) iPhone mà thôi. Phong trào hack ở Việt Nam nói riêng và các nước Châu Á nói chung, nhiều đến mức, Apple đóng cửa một số các công dân Châu Á. Có nghĩa là trên Profile cá nhân, nếu thấy bạn là công dân Châu Á (thể hiện bằng tên thành phố, tên quốc gia, code bưu điện, mã số quốc gia…) là bạn đố mà add được tài khoản của bạn vào.
Nhưng mấy ông chuyên gia ở Apple dù có thông minh đến đâu thì cũng không thể láu cá bằng mấy ông hacker Việt Nam. Chỉ đơn giản là bạn chớ có mà khai những thông tin trên theo kiểu thật thà, mà phải làm như bạn là công dân của nước Mỹ thật ấy. Có nghĩa là bạn lấy một cái tên Jonny, Steven, Maria… nào đó tùy bạn. Bước tiếp theo là bạn khai bạn ở New York, mã số, code bưu điện… đều theo các thành phố, địa phương của Mỹ.
Thế là xong! Mấy ông chuyên gia IT của Apple chỉ có nước khóc!
Ngẫm ra, làm công dân của nước Mỹ sướng thật. Và sướng nhất có lẽ là công dân ảo thôi, chứ làm công dân thật, chắc cũng lắm đau thương mà mình chưa biết hết. Chẳng dại!
Tết nhất đến nơi, nhờ người đi hỏi Thầy xem tuổi nào xông đất Văn phòng? Tuổi nào xông đất nhà mình? Thầy phán: “Tuổi cậu, cứ nhờ đứa nào tuổi Mùi nó xông đất là tốt nhất!”. Nghe có lý! Hợi-Mão- Mùi tam hợp mà. Thấy mình gật gù, Thầy phán tiếp: “Cậu làm ăn hợp với giới nữ, vì thế nên là phụ nữ tuổi Mùi. Nếu kén được đứa con gái còn tân, chưa chồng thì càng tốt”.
Về nhà tính, tuổi Mùi mà trẻ trẻ một chút thì lứa sinh năm 79 là hợp nhất. Không trẻ quá, không già quá. Cũng là lứa có đủ dạn dày trong cuộc sống. Nhưng Thày lại bảo tốt nhất là con gái còn tân. Muốn thế, chắc là phải lứa Mùi kế tiếp, nhẩm ra thì là lứa sinh năm 81.
Lứa này thì chắc không ổn rồi. Gặp phải em (à, nên là cháu) nào mắt xanh mỏ đỏ, chân dài chân ngắn, rồi mình lại vớ va vớ vẩn thì chắc chết. Nhưng cái lứa 79 mà lại chưa gì cả thì có khi còn nhiều vấn đề hơn. Nghĩ đi nghĩ lại, thật là rắc rối! Rốt cuộc, chốt hạ là chỉ định một cô đã có gia đình, có con trai. Mọi người trong công ty nhất tề hưởng ứng và thấy đó là gương mặt ổn nhất.
Chưa hết!
Ngày xông đất là ngày nào? Có đến vài phương án. Ngày nào cũng đẹp cả. Người thì bảo ngày xông đất là ngày chung cho cả năm nay. Ai cũng nên xông đất, mở hàng vào ngày đấy. Người lại bảo ngày chung, nhưng giờ nào tốt thì lại phải tùy tuổi, tủy người. Người thì bảo giờ nào cũng được. Thật là rối như canh hẹ!
Xong cái vụ ngày xông đất thì lại phát sinh thêm vấn đề. Đó là như thế nào gọi là xông đất? Thoạt nghe thấy đơn giản. Nhưng rồi không phải như vậy. Mình là chủ nhà. Vậy thì khi đến Văn phòng, mình vào trước hay cái người xông đất vào trước?
Người thì bảo, mình là chủ, mình phải vào trước. Vì mình vào Văn phòng mình thì đâu có gọi là xông đất được. Mình vào nhà mình cơ mà. Sau đó, cái người xông đất mới vào. Thế là một ý kiến. Một số người theo ý kiến khác thì nói là cái người xông đất phải vào đầu tiên. Thế mới là xông đất chứ. Mình vào rồi, đã mất zin rồi thì còn gọi quái gì là xông đất nữa chứ!
Mệt hết cả người. Chẳng biết nghe ai. Mới hay, kinh doanh ở mình thật là phức tạp. Kiêng kem, xem nom đủ thứ. Vậy mà năm nào cũng vất vả, cũng gian nan vô cùng. Có năm nào thoát được đâu. Xem thì thêm bao nhiêu cái lo vào người. Mà không xem thì lỡ có chuyện gì, mọi người lại quở ai bảo vô sư vô sách thế. Biết làm sao bây giờ đây?
Ngày đến nhận nhiệm sở, tôi gặp chị. Thật đặc biệt và thật dễ gần. Đấy là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một người viết văn chuyên nghiệp. Chị có cái tên thật đẹp nhưng có vẻ gì đấy khiến người ta liên tưởng đến những nỗi buồn trầm lắng, mênh mang, một nỗi buồn không tên gọi, không địa chỉ. Chị làm cùng Tòa soạn với chúng tôi một thời gian, sau đó, chuyển tới Ban Văn nghệ một cơ quan truyền thông lớn của Nhà nước.
Chị viết văn, làm thơ. Con gái mà thơ văn là khổ rồi. Ai cũng bảo thế! Nhưng có thật như vậy không? Tôi không đồng ý với quan điểm này, chỉ vì đơn giản là tôi đã thấy khá nhiều nhà văn, nhà thơ nữ mà họ lại chẳng khổ tí nào hết. Thậm chí, tôi còn chẳng thấy họ buồn tí nào cả.
Chị sống độc thân. Nhiều tuổi rồi mà chưa lấy chồng thì tình duyên hẳn là trắc trở. Hừm hừm! Cái này thì có thể. Nhưng cũng không đơn giản như chúng ta, những người ngoài cuộc vẫn thường nghĩ. Đời sống tình cảm là một vấn đề hết sức phức tạp. Chúng ta cứ chê người này người kia tại sao lại hành động dại dột như vậy. Nhưng thử hỏi nếu là người trong cuộc, chúng ta có hành động khác đi được không?
Và câu chuyện về chị cũng là một trong những vấn đề thuộc lĩnh phức tạp như thế…!
Cả cơ quan chúng tôi, không một ai là không biết và không cả quyết là chị đã có một mối tình thật đẹp từ hồi còn là thanh niên xung phong ở rừng Trường Sơn, những năm cuối thời đánh Mỹ. Chị có kể với ai bao giờ về mối tình này không? Không, không ai trực tiếp nghe chị nói cả.
Vậy thì tại sao mọi người lại biết? Người mới về nghe người cũ truyền tai nhau vậy thôi. Rồi người mới lại kể lại cho người mới hơn. Không tin à? Thì cứ đọc truyện ngắn Cây hoàng liên rễ đắng của chị đăng trên Tạp chí Văn nghệ những năm ấy đi. Rồi xem bài thơ Bờ sông hoa tím đi. Sẽ tin ngay thôi! Văn tức là người mà. Câu chuyện buồn. Bài thơ lại càng buồn. Làm sao mà không tin được.
Mối tình ấy kéo dài nhiều năm. Hòa bình lập lại. Đất nước thống nhất. Anh đã không trở về. Chị thì cứ chờ đợi, cứ ôm ấp mãi một hình bóng, một quá khứ quá đẹp đẽ để rồi chẳng đến được với ai. Cứ mỗi mùa xuân qua đi, mỗi tuổi qua đi, lại thêm một lần mỏi mòn cho một cái gì đó vừa thiêng liêng, vừa xa vời, vừa nhạt nhòa dần theo thời gian đang trôi đi khắc nghiệt, trên mái tóc đã chẳng còn màu xanh.
Buổi trưa, nhân đà rảnh rỗi, đám thanh niên trong công ty bống khơi ra một vấn đề muôn thuở: Khi chia tay nhau (dù là bắt buộc hay tự nguyện hay là gì gì đi chăng nữa) ai đau khổ hơn nhỉ? Con trai hay là con gái?
Đám con gái thì bảo chắc chắn là con gái rồi. Con trai thì đâu có nặng lòng gì đâu. Yêu thế đấy, nhưng quên thì cũng quên ngay. Được ba bảy hai mốt ngày là có ngay người yêu mới. Mà dẫn chứng là nếu tình yêu không thành, rủ nhau đi tự tử thì con gái nhảy xuống sông trước, chứ mấy thằng con trai, có thằng nào nhảy đâu (hì hì). Đã thế, chúng nó còn quay về cười vào mũi mình là mình dại ấy chứ!
Mấy cậu con trai thì bảo con gái thì có đau khổ gì đâu. Vài tuần sau khi chia tay là lên xe hoa với người khác, mặt mũi cứ tươi hơn hớn. Đau khổ gì mà đâu khổ! Chỉ có mấy thằng con trai là gầy cả người ra vì tan nát con tim thôi. Chẳng gì thì Nguyễn Bính cũng đã viết “Thiếu nữ hoài xuân mơ cát sĩ. Chịu làm sao được những đêm đông. Khốn nạn tưởng yêu thì khó chứ! Không yêu thì thật dễ như không!”.
Học xong một lớp văn thư, cô chẳng biết xin việc ở đâu, đành ra cửa hàng trên đường Hai Bà Trưng đánh máy thuê. Anh Chánh văn phòng Tòa soạn ra cửa hàng thuê đánh văn bản, nhìn ngó cô bé đánh máy như múa trên bàn phím, thích quá! Lần đầu tiên anh thấy một người đánh máy không nhìn bàn phím, không nhìn màn hình. Anh tỉ tê rủ cô về làm việc. Vậy là cô thành nhân viên đánh máy cho tờ báo ấy. Anh quen cô từ đó.
Rồi cô theo học lớp kế toán. Tốt nghiệp lớp kế toán, cũng là lúc anh được giao phụ trách một dự án của Tờ báo. Anh rủ cô làm kế toán cho dự án. Hai anh em đi với nhau từ những ngày dự án bắt đầu. Hợp nhau, thân nhau lắm! Buổi trưa, cô thường rủ anh đi ăn cơm ở mấy quán bình dân ven đường. Cuối tháng cô thu tiền ăn của anh bằng cách trừ vào lương. Tháng đầu tiên, có lẽ là do bệnh nghề nghiệp của dân kế toán, cô đưa cho anh bản kê chi tiết tiền ăn. Anh gạt đi: “Thôi mà, hết bao nhiêu, em cứ trừ đi thôi!”. Tháng sau, cô bảo: “Phải đấy, em cứ trừ thôi nhé! Đàn ông không nên chi li quá, hỏng người đi!”.
Cô còn trẻ lắm. Cũng hay phải đàn đúm bè bạn. Trưa nào không đi ăn với anh, hôm thì mua gói xôi, hôm thì gọi cơm hộp, hôm thì cô phân công một ai đó dẫn anh đi ăn. Nói tóm lại, cô quan tâm đến anh và không muốn anh phải đơn độc đi đâu một mình. Có lần cô bảo: “Chiều anh tí thế thôi! Sau này em lấy chồng, cố mà tự lo nhé!”.
Lần ấy, gần đến sinh nhật anh, cô đi đâu về, đặt lên bàn anh một chiếc áo sơ-mi: “Em có món quà, tặng anh sinh nhật. Anh mặc nhé! Đừng có mà chê đấy! Sáng mai mặc luôn đi!”. Chiếc sơ-mi màu ghi sáng, vải sợi cotton, là sản phẩm của một hãng thời trang khá tiếng tăm trong nước. Anh thích lắm! Sơ-mi là món quà anh không bao giờ chán! Có lẽ cô cũng biết là như vậy! Ngày ấy, chiếc áo như thế là khá đắt tiền. Anh biết, nó đã ngốn của cô một phần tiền lương kha khá.
Ít ngày sau. Cuối giờ trưa hôm ấy, bước ra trước cửa cơ quan, anh chợt thấy cô ngồi trên xe máy ở nhà xe. Hình như cô đang ngần ngừ định làm một điều gì đó. Cô bảo anh: “Em định ra ngân hàng tí nhưng sợ muộn, ra đến nơi, họ lại nghỉ rồi. Thôi, em cứ đi đây! Anh chờ em về ăn cơm nhé!”.
Anh chờ cô, chờ mãi! Và đau đớn thay, bữa ăn trưa anh và cô đã hẹn nhau ấy đã chẳng bao giờ có nữa. Cô bị tai nạn và mất sau đó 2 ngày. Suốt 2 ngày anh và cả công ty ngồi trực bên cạnh cô trong bệnh viện, để rồi anh là người thua cuộc. Cô đã ra đi mãi mãi. Cô không tỉnh lại một lần nào nữa. Hai anh em anh chẳng nói được với nhau một lời nào và lời hẹn ước ăn cơm trưa cùng nhau, thật vô tình, lại là lời cuối cùng cô dặn dò lại với anh.
Thời gian qua đi. Nỗi đớn đau như bát nước nóng nguội dần. Anh nhớ chiếc sơ-mi cô mua tặng anh. Chiếc sơ-mi màu ghi sáng của cô là kỷ vật duy nhất anh có được sau thời gian dài hai anh em làm việc bên nhau. Chiếc áo đã theo anh nhiều năm, qua nhiều lần chuyển nhà. Và lần nào, khi có một chiếc tủ mới, nó cũng được anh đặt vào vị trí quen thuộc nhất, dễ nhìn nhất.
Nhiều năm đã qua. Thời trang của giới doanh nhân cũng thay đổi nhiều. Trong tủ quần áo của anh ngày càng có nhiều sơ-mi đẹp của các hãng thời trang danh tiếng như John Langford, Caven, Arrow, Ketten, Pie Cardin, Valentino Rudy, Weilli, Zeiden Stickers… nhưng không một chiếc sơ-mi nào có thể thay thế được chiếc sơ-mi màu ghi sáng mà cô đã tặng anh.
Năm nào cũng thế, khi cái lạnh của Mùa Đông sắp sửa qua đi, để tiết lập Xuân về với đất trời, anh lại mặc chiếc sơ-mi ấy, chiếc sơ-mi màu ghi sáng mà gần 10 năm trước, nó được cô dành dụm tiền lương còm cõi của mình để mua tặng anh. Và anh biết một điều chắc chắn rằng, sẽ chẳng có một hãng thời trang nào có thể có chiếc sơ-mi như thế, một chiếc sơ-mi lúc nào cũng chiếm chỗ quen thuộc và gần gũi nhất trong tủ quần áo của anh.
Trong suốt thời gian nghỉ Noel và Tết, họ cùng gia đình đi nghỉ đâu đó. Tại nơi nghỉ, hoặc tại bất kể nơi nào họ đến, họ có thể đến Nhà thờ gần nhất để làm lễ hàng ngày. Không phải đổi tiền lẻ, không phải sắm lễ (lễ mặn, lễ ngọt, hoa quả…) để đặt vào Nhà thờ khi đến tham dự lễ. Nếu không đi nghỉ, họ có thể ở tại nhà nhưng không phải làm cơm, không phải nấu cỗ.
Những người theo đạo Phật thì Tết Nguyên đán quan trọng lắm. Đơn giản (có thể nói là không thể đơn giản được hơn nữa) là như nhà tôi thì cũng phải làm cỗ cũng Tất niên (chiều 30 Phật lịch), cỗ cũng Giao thừa (nửa đêm 30) và cố cúng Tân niên (sáng mùng 1 Phật lịch). Với 3 bữa cỗ liên tiếp ấy, những người phụ nữ toàn quần xắn móng lợn, tóc tai bù xù, thái, gọt, chặt, nấu, xào, rửa… Nói tóm lại, quỹ đạo những ngày Tết của họ toàn ở trong bếp và loanh quanh trong nhà mà thôi.
Tết Nguyên Đán thì khó đi nghỉ lắm. Họ hàng đến thăm, anh em đến đánh chén. Phụ nữ mà đi thì ai nấu nướng, ai rửa bát? Ngày Xuân đi lễ cũng không đơn giản. Nào là năm nay đi hướng nào cho tốt? Phải đi xem thày mới biết. Đi chùa nào, đền nào, miếu nào? Cũng không thể tùy tiện được. Cũng phải xem, phải tính. Nơi nào thiêng thì đến, không thì thôi.
Còn những chuyện gì nữa nhỉ? Tôi cũng không nhớ hết, không biết hết nữa. Nhưng điều dễ nhận thấy là những người phụ nữ theo Phật giáo vất vả lắm. Ngày Tết đối với họ hầu hết liên quan đến nấu nướng, sắm đồ, biếu xén. Tóm lại là các công việc nội trợ, bếp núc. Chẳng mấy người được nhàn nhã để làm đẹp, để mặc đẹp.
Có lẽ, đã đến lúc nên thay đổi một vài quan niệm về Tết của chúng ta!
Khu tập thể nhỏ nằm lọt thỏm trong con phố cổ đông đúc. Cả khu có cái sân nhỏ chung nhau, là nơi tập trung hầu hết các bà chủ nhà, ô-sin và đôi khi, là chỗ thông báo, đăng đàn giải thích của cả bác tổ trưởng nữa. Những cư dân ở đây khá thân tình và cởi mở.
Chiều tối hôm ấy, bác tổ trưởng mau mồm mau miệng dẫn một bà tầm ngoài 60 đến từng căn hộ giới thiệu. Bà cụ hiền lành, gương mặt phúc hậu, từ tốn trình bày với từng chủ hộ mục đích của mình. Bà về nghỉ hưu đã lâu, giúp đỡ con cháu trong nhà. Giờ các cháu đã lớn, đi học hết cả, ở nhà một mình cũng buồn nên bà làm thêm công việc đưa báo đến tận nhà cho những ai có nhu cầu.
Có bác tổ trưởng dẫn đi, lại thêm phần cả nể người già, hầu như nhà nào cũng đặt một vài đầu báo. Bắt đầu từ đấy, cứ sáng sáng, bà phát báo mang báo đến từng căn hộ, nhà nào có người thì đưa tận tay, nhà nào đi vắng thì nhét qua khe cửa. Một tuần sau, bà xin tạm ứng tiền báo cho tháng đầu tiên.
Sự việc cứ thế trôi đi. Đến quý tiếp theo, bà phát báo đã trở thành chỗ khá thân tình của cái Khu tập thể lắm lời và thân thiện ấy. Đầu quý, bà trình bày với các hộ là có chút khó khăn về tài chính nên muốn mọi người tạm ứng trước tiền báo của tháng. Hầu như nhà nào cũng đồng ý. Cũng dễ hiểu, bà đã có uy tín với mọi người, lại là người có tuổi, ai cũng muốn đỡ đần bà ít nhiều.
Gần chục ngày qua đi. Buổi chiều muộn hôm ấy, cái sân nhỏ của Khu tập thể bỗng xôn xao tin bà già phát hành báo không đến đưa báo như thường lệ. Một vài người nói với nhau như tự nhủ: “Thôi thì nhà người ta có việc. Thông cảm! Không ăn thì chết chứ không đọc báo có ai chết đâu!”.
Nhưng rồi hôm sau, hôm sau nữa, bà phát hành báo cũng không đến. Lần này thì lừa đảo thực sự rồi. Một vài bà mạnh mồm chất vấn bác tổ trưởng: “Cái con mẹ ấy ông moi ở đâu ra thế hả? Nó tạm ứng tiền rồi bùng mất. Rõ ràng là có âm mưu từ đầu. Ông bị lừa rồi, làm chúng tôi cũng vạ lây”.
Bác tổ trưởng ú ớ vì chính bác cũng biết bà già ấy một cách rất tình cờ. Gọi vào số điện thoại di động thì thấy ò í e suốt. Mấy cô cậu thanh niên xem số rồi cười ầm lên: “Bác ơi là bác, đây là số sim khuyến mại. Chúng cháu đứa nào cũng có vài cái. Bác bị ăn quả lừa rồi bác ơi!”.
Một tuần qua đi. Cả khu cũng đã quên dần sự kiện bà già phát hành báo biệt vô âm tín. Cũng chẳng ai muốn nhắc lại nữa. Thời buổi này, không cẩn thận, quá tin người thì ăn quả đắng là phải thôi. May mà số tiền của mỗi nhà cũng không lớn.
Tối muộn hôm ấy…
Một cô gái nhỏ nhắn, mặc bộ đồ sẫm màu, ngập ngừng bấm chuông nhà bác tổ trưởng. Cửa mở, sau vài lời giới thiệu, bác hiểu ngay sự việc. Tần ngần giây lát, bác nói: “Thôi, cháu chờ bác ở đây, bác sẽ đi mời các nhà đến cho cháu thưa chuyện. Như thế tốt hơn là bác lại dẫn cháu đi từng nhà”.
Khi mọi người đã đến đầy đủ, cô gái bắt đầu câu chuyện của mình bằng một lời xin lỗi, dù rằng lời xin lỗi của cô có vẻ hơi muộn mằn.
Cô là con gái của bà phát hành báo vẫn đưa báo đến cho các hộ. Mẹ cô không may mất đột ngột sau một cơn tai biến. Bà chẳng kịp dặn lại con cháu điều gì. Tang gia bối rối, mọi người chỉ tập trung lo việc hậu sự cho mẹ chu tất. Công việc xong xuôi, mấy bố con ngồi họp gia đình, bố cô mới nhớ lại là mẹ vẫn đến đưa báo ở Khu tập thể ấy và đã tạm ứng tiền của một số hộ gia đình.
Cô tìm lại cuốn sổ giao nhận báo, tạm ứng tiền của mẹ và theo đó, tính toán số tiền đã tạm ứng, đã giao báo của từng nhà và tối nay, cô thay mặt mẹ xin lỗi ông bà, cô bác và anh chị vì sơ suất của gia đình đã không báo lại ngay. Cô cũng xin được hoàn lại số tiền đã ứng nhưng chưa đưa báo cho các hộ.
Câu chuyện thật bất ngờ khiến mọi người im lặng mãi. Chẳng ai nói được câu nào. Rồi thì bác tổ trưởng cũng phải cất lên tiếng nói đầu tiên. Bác thay mặt cho cả Khu tập thể có lời chia buồn đến gia đình, đồng thời cũng an ủi cô không phải xin lỗi, và cũng đừng băn khoăn gì về mấy đồng tiền báo ấy nữa. Bác nói: “Nếu cháu không thể bố trí đưa báo được cho các bác nữa thì các bác sẽ xin lại tiền. Còn nếu bố trí được thì cố gắng thay mẹ đưa báo. Cũng là lấy chỗ đi lại với nhau. Nếu bận đi làm thì tối đến đưa cũng được”.
Tiến cô gái ra về. Mấy bà mạnh mồm, từng làm ầm ĩ với bác tổ trưởng, giờ lại có phần tẽn tò. Một bà nói: “Thật là phúc đức! Cả mẹ lẫn con, ai cũng nhẹ nhàng, phúc hậu, chu đáo thế!”.
Câu chuyện trên đây, ở một khu tập thể nhỏ của Hà Nội. Những con người ấy, kẻ còn, người mất, nhưng những tờ báo vẫn hàng ngày đến tay hết thảy các hộ. Người ta chờ đón mỗi sáng, mỗi tối, nhiều khi không phải là tờ báo mỏng manh vô tri vô giác nữa, mà là chờ đón một con người, một gia đình đã từng nhiều năm gắn bó với nhau bởi một sự làm quen tình cờ, bắt đầu từ bác tổ trưởng già ngày nào.